HÀ NỘI MÙA HẠ
Cuối thập niên 70s tôi theo Mẹ làm chuyến đi Bắc thăm Ba ngoài Vĩnh Phú. Ngày rời Sài Gòn, có Cậu Hai, Cậu Ba đưa tiễn ở nhà ga xe lửa.
Chuyến tàu Thống Nhất Nam Bắc khởi hành. Tôi phấn khởi với trải nghiệm mới, trong khi Mẹ không giấu được những nỗi âu lo cho cuộc hành trình ra xứ lạ.
Xe chạy chưa được bao lâu thì Chú ngồi hàng ghế kế bên Mẹ và tôi bắt chuyện làm quen. Ban đầu chúng tôi ngại giao tiếp vì Chú ấy là người lạ. Bằng chất giọng Hà Nội trầm ấm, Chú tự giới thiệu Chú tên Hải, người Hà Nội, vào Nam công tác, bây giờ trở về nhà. Bác ấy bày tỏ lòng tôn kính với người miền Nam, và đặc biệt với những người bên kia chiến tuyến với Chú. Chú nói đây là lần thứ tư Chú vào Nam công tác. Chú nói có vào Nam mới hiểu miền Nam như thế nào. Chú kể rất nhiều về Hà Nội, về cảm nhận của Chú với Sài Gòn. Sau đó Chú đề nghị Mẹ và tôi về ở nhà Chú khi đến Hà Nội.
Đoàn tàu Thống Nhất 1 đưa đi ngắm những miền quê, tỉnh thành. Những cảnh quan trên tuyến đường sắt Nam Bắc thật đẹp, thật hùng vĩ. Tôi thích nhìn đoàn tàu uốn lượn lúc đêm về. Ánh sáng hắt ra từ các toa tàu như những ngôi nhà di động thật đẹp. Khi ra dừng ở ga Đà Nẵng, Mẹ mua một con gà luộc cùng thố cơm trắng để hai Mẹ con ăn tối và mời Chú Hải, nhưng khi xe mới vừa lăn bánh, một bàn tay từ ngoài thò qua cửa sổ chôm mất con gà, báo hại chúng tôi chỉ ăn cơm trắng với nước tương.
Ra đến Hà Nội, Chú Hải rất nhiệt tình giúp đỡ Mẹ và tôi lấy hành lý. Khi đó tôi thấy ai cũng đội nón cối hết, nên hỏi Chú. Chú nói họ chỉ là dân thôi chứ không phải là lính. Nói thiệt chớ, lúc đó không có Chú Hải, không biết Mẹ và tôi phải làm như thế nào nữa.
Lấy xong hành lý, Chú đưa chúng tôi về nhà. Căn nhà ấm cúng nằm trong ngõ Văn Chương, cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ số nhà và con hẻm này. Tôi còn nhớ Chú biểu Cô ra chợ mua một con gà về làm đãi Mẹ và tôi. Con gà nhìn bên ngoài thấy chín, nhưng bên tròng vẫn còn đầy máu. Cô ấy nói lần đầu tiên trong đời mới làm và nấu con gà nên không biết sống chín như thế nào.
Buổi sáng ngày thứ ba, tôi theo chân hai đứa con Chú đi xếp hàng mua rau muống. Ăn cơm trưa xong, Chú Hải kêu hai xe xích lô đến chở cả nhà đi chợ Đông Xuân. Nhắc đến chợ này là tôi nhớ đến mùi măng, và ngược lại, nghe mùi măng là tôi nhớ đến chợ. Phố phường Hà Nội thật đẹp với những con đường mang tên "hàng". Những ngày đầu ở Hà Nội, tôi ớn nhất là chuyện đi cầu. Ở thời điểm đó, các cầu đều là cầu thùng. Mục đích của cầu này là giữ lại chất thảy của người để làm phân bón cho hoa màu. Mỗi lần lấy phân là mùi hương lan tỏa khắp khu phố. Ban đầu tôi nín chịu trận, sau chịu không nổi đành đi đại, mà đi là phải bịt cả mắt mũi để che đi cái cảm giác sợ.
Tôi ra Hà Nội vào mùa hè nên nóng kinh khủng, nắng như thiêu đốt tất cả mọi thứ, hơi nóng hừng hực tỏa ra làm khô cả thịt da. Hồi đó, vào hè, người Hà Nội ngủ mùng có cái lỗ ở trên nóc mùng để đút quạt máy vào. Tiếng rè rè của quạt máy với những làn gió nhẹ từ nóc mùng dễ đưa chúng ta vào giấc ngủ hơn, lời của Chú Hải.
Rời Hà Nội, tôi và Mẹ ra Vĩnh Phú, rồi trở về Hà Nội tá túc nhà Chú trước khi về Sài Gòn.
Khi về lại Sài Gòn, chúng tôi đi tàu Thống Nhất 3, là loại tàu chợ, nên không có tiện nghi như tàu 1. Trên đường về Nam, tôi thấy nhiều đoàn xe nhà binh, xe hàng, và cả xe Honda, nối đuôi nhau, chất đầy hàng hóa và đồ gia dụng từ Nam hướng về Bắc. Những chiếc xe hơi cũng được đưa ra Hà Nội từ Sài Gòn.
Những ngày ở nhà Chú Hải tại Hà Nội cách đây mấy mươi năm mà tôi vẫn còn nhớ như in. Quý lắm cái tình của Cô Chú, và cả hai con của Cô Chú nữa. Cũng nhờ Chú vào Nam mà hiểu và thương con người miền Nam, mà trên hết vẫn là cái tình cảm giữa người với người thật bao la của Chú. Dẫu biết rằng Cô Chú sẽ không đọc được bài viết này, nhưng cháu vẫn muốn gởi đến Cô Chú lời cám ơn chân thành nhất.
Quốc Thái

No comments:
Post a Comment