PHÉP THỬ NGHIỆT NGÃ
Gởi tiền về Việt Nam dường như là bổn phận trách nhiệm của người Việt ở hải ngoại hay sao ấy, cho nên câu chuyện gởi tiền về quê luôn là đề tài trao đổi của người dân ở nước ngoài.
Sáng cuối tuần, tôi chở con trai đi cắt tóc. Trong tiệm cắt tóc có quầy gởi tiền về Việt Nam. Trong lúc chờ đợi thì có một bà bước vào để gởi tiền. Thấy có một cậu trẻ, chắc là quen với bà, cũng đang ngồi chờ cắt tóc, bà ấy liền hỏi "cháu có gởi tiền về Việt Nam không?" Cậu ấy đáp "dạ không cô, mà sao cháu phải gởi trong khi Ba Má và anh chị em cháu đều ở đây hết mà. Trước đây gia đình cháu có gởi tiền về giúp bà con hai bên Nội Ngoại vốn làm ăn, bây giờ thì mọi người phải tự đi trên đôi chân của mình chứ, gia đình cháu đâu có bổn phận phải gởi tiền về cho họ hàng nhà cháu đâu." Nghe thế, bà ấy thở dài, nói, "mình bên đây đi làm kiếm tiền vất vả, nhưng người nhà bên đó cứ xin, mà hễ xin thì mình không thể từ chối, nên cứ gởi." Ông kia, chừng ngoài bảy mươi ngồi nghe đối đáp giữa hai người, rồi ánh mắt như nhìn về một nơi xa xăm lên tiếng. Ông kể lại câu chuyện của ông ấy như sau.
Ông sang Mỹ hồi năm 1978 cùng vợ và hai con nhỏ. Con trai tám tuổi, con gái sáu tuổi. Hai vợ chồng đi làm vất vả để mưu sinh, và dành dụm. Một thời gian sau ông mở tiệm tạp hóa, rồi lên siêu thị, và mở thêm các chi nhánh khi có điều kiện thuận lợi. Lúc đã có thể giúp đỡ anh em tại quê nhà, ông bàn với vợ gởi tiền về cho những người em của ông để họ xây lại nhà cửa, lấy vốn làm ăn. Từ đó, anh em ông cũng đổi đời, và dọn ra thị phố sinh sống, chỉ còn lại người em gái út vẫn ở quê để trông nom mồ mả ông bà cha mẹ. Tuy mồ mả ở quê, nhưng mảnh đất hương quả của gia đình ông lại nằm ở ngoài thị trấn. Khi cha mẹ ông qua đời, mấy anh em đồng ý để người em trai kế ông tạm thời chăm sóc. Kể từ đó, ông bỗng nhiên trở thành cái máy rút tiền của sáu người em. Riêng cô út chỉ hỏi xin một lần duy nhất để cứu cái chân khỏi bị cắt bỏ khi bị tai nạn trong lúc làm việc. Thời gian thắm thoát trôi qua, số tiền ông gởi về cho những người em của ông cũng tăng theo cấp số nhân. Bên đó cần bất cứ thứ gì, từ mua một chiếc xe tay ga, đến cái bàn, cái tủ, đóng tiền học, đau ốm....đến những khoản không tên, họ đều gọi qua xin, và ông đều gởi về chu cấp đầy đủ. Tất cả em út của ông và các cháu, ngoại trừ gia đình cô út, đều ăn sung mặc sướng, đều được hưởng những tiện nghi sang trọng như những đại thiếu gia thời hiện đại.
Sau mấy mươi năm làm việc vất vả, con cái ông đã thành nhân và thành thân, ông bà cũng đã đến tuổi về hưu. Thế là ông quyết định sang lại các siêu thị của mình. Sau một thời gian nghỉ ngơi, ông bà cùng hai con làm một chuyến thăm quê.
Để thử xem tình thân của những người em ông ở mức độ nào, ông và vợ con đóng giả những người bị trục xuất, và thông báo cho mọi người ngày giờ về đến Tân Sơn Nhất. Họ ăn mặc như những người nghèo khó, kéo những chiếc va li cũ mèm. Không một ai đến đón, ngoại trừ gia đình cô út. Gia đình ông được cô út đưa về ở chung trong một căn nhà lá trống trước hở sau. Cô cho biết số tiền ông gởi về, cô gởi hết vào ngân hàng chứ không dùng một đồng cắc nào phòng khi anh mình ở bên Mỹ có cần đến. Cô nói nếu không có anh hai thì chân cô đã không còn và cô đã trở thành người tàn phế. Thời gian ông lưu trú ở quê, tuyệt nhiên, không một người em nào đến thăm. Họ còn lo là phải chứa chấp gia đình ông, bởi bây giờ vợ chồng và con cái ông là những kẻ trắng tay. Không những thế, họ còn làm áp lực buộc ông ký tên vào tờ giấy không tranh giành miếng đất hương quả mà chính ông đã bỏ tiền ra để nâng cấp và tu bổ. Những người em của ông còn mời cả chính quyền địa phương, và các cán bộ địa chính để gây áp lực buộc ông ký tên từ bỏ đất, nếu ông không ký họ sẽ bỏ tù ông.
Mặc dù ông không lường trước được tình huống này, nhưng ông vẫn chuẩn bị đầy đủ hồ sơ giấy tờ để đề phòng chuyện bất trắc xảy ra. Những ngày ở Việt Nam, ông đã liên hệ với chính quyền tỉnh và hoàn tất thủ tục hồ sơ pháp lý. Ông ra dấu cho cậu con trai mang cặp táp đến cho ông. Ông mở cặp, lấy ra từng tập hồ sơ, giấy tờ với những con dấu chứng nhận của các cơ quan tỉnh, những bản dịch từ Anh sang Việt kèm bản gốc từ bên Mỹ, những hồ sơ giao nhận tiền, những thỏa thuận trên giấy, đã khiến những vị chức sắc cấp xã xác nhận đúng thủ tục pháp lý. Họ xin lỗi ông và rút lui. Miếng đất hương quả ông giao cho cô út tiếp quản có sổ đỏ đàng hoàng. Ông cũng thông báo cho những người em của ông, lúc nãy còn hùng hổ mà bây giờ trở thành những đứa trẻ ngoan ngoãn quỳ dưới chân ông khóc lóc xin lỗi, rằng, "vợ chồng anh và hai cháu vẫn là công dân Mỹ. Chúng tôi không hề bị trục xuất. Anh chỉ giả vờ nói vậy để thử xem cái tình anh em nó nồng ấm như thế nào, để xem xem các chú các cô có cưu mang gia đình người anh đói rách này không. Các em làm anh quá thất vọng. Chỉ có cô út là chân chất, không tham lam, ích kỷ. Biết anh chị và các cháu sa cơ lỡ vận vẫn cho ở nhờ trong căn nhà lá chật hẹp, không một lời than vãn. Còn các chú các cô là những người có lòng tham không đáy, ích kỷ, mất nhân tính. Mọi người không những không thương người anh sa cơ này, mà còn tìm cách xua đuổi chiếm đoạt mảnh đất cha mẹ để lại, miệt thị anh chị và hai cháu. Từ nay giữa anh và các chú các cô không còn liên hệ gì nữa. Riêng cô út, anh cám ơn cô rất nhiều. Chính cô đã cho anh cảm giác chân tình, không mưu mô, vụ lợi. Mọi người hãy đứng dậy và đi về hết đi. Từ nay đừng bao giờ gọi tôi là anh hai nữa."
Ông kể xong câu chuyện mà nước mắt lưng tròng. Thế mới biết cái tình thân nó như thế nào. Khi có tiền là có tình. Lúc tiền hết thì tình thân ruột thịt nó cũng bay xa luôn.
Trên đây là câu chuyện mà tôi nghe được ở tiệm cắt tóc. Nghe xong câu chuyện này tôi suy nghĩ rất nhiều. Có phải những điều ông ấy nói là thật (?) Câu chuyện này có là mẫu số chung cho tất cả người Việt ở hải ngoại và người thân trong nước (?) Nghĩ hoài không ra, nên tôi quyết định viết ra để chia sẻ cùng quý vị nhé.
Quốc Thái